Chào mừng quý khách đến với Website của Phòng Công chứng số 3 thành phố Hà Nội



quản lý công chứng  - ( 7/23/2010)   quản lý công chứng

QUẢN LÝ CÔNG CHỨNG

 

 

Tuấn Đạo Thanh

Phòng Công chứng số 3 T.P Hà Nội

 

I. TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG CHỨNG HIỆN HÀNH

          Nhìn một cách tổng quát nhất, quản lý là "tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định" (xem Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý biên soạn năm 2006). Nói cách khác, quản lý chính là hành vi tác động bằng sức mạnh quyền uy của chủ thể quản lý lên đối tượng chịu sự quản lý theo những mục tiêu, trật tự nhất định mà chủ thể quản lý hướng tới. Quản lý có thể được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau, bằng nhiều biện pháp cũng như hình thức tác động không giống nhau. Do đó, quản lý công chứng chính là việc chủ thể quản lý (có thể là cơ quan, cá nhân có thẩm quyền) sử dụng các biện pháp quản lý, dưới nhiều hình thức tác động (ví dụ như ban hành chính sách, thực thi chính sách và thanh tra, kiểm tra...) nhằm đảm bảo hệ thống công chứng được tổ chức, vận hành theo đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định.

          Khoa học pháp lý chỉ ra rằng khách thể của quản lý chính là trật tự quản lý và trật tự này được xác định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật... Như vậy, quản lý công chứng chính là điều kiện và cũng là tiền đề để thiết chế này vận hành theo đúng trật tự quản lý đã được pháp luật quy định. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện những bước đi đầu tiên nhằm "xã hội hoá" hoạt động công chứng trong tình hình không mấy thuận lợi. Khó khăn thứ nhất là kinh nghiệm thực tế cũng như cơ sở lý luận đặt nền móng cho vấn đề "xã hội hoá" hoạt động công chứng vẫn còn trong quá trình hoàn thiện, tích luỹ. Khó khăn thứ hai là chúng ta hiện vẫn chưa "chuẩn hoá" được chất lượng của dịch vụ công chứng trên một số phương diện cơ bản như: chất lượng nhà cung cấp dịch vụ (bao gồm công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng), giá cả dịch vụ (cụ thể là mức chi phí và thù lao công chứng) và "nguyên liệu đầu vào" của văn bản công chứng (các giấy tờ, tài liệu mà người yêu cầu công chứng phải xuất trình cho công chứng viên khi đề nghị công chứng một giao dịch cụ  thể). Điều này có nghĩa cùng một yêu cầu công chứng nhưng sẽ có nhiều cách giải quyết khác nhau với một bộ hồ sơ không giống nhau trong khi giá cả lại có sự chênh lệch nhất định. Do đó, vai trò quản lý đối với hoạt động công chứng vốn dĩ đã không thể thiếu nay lại càng trở nên vô cùng quan trọng.

          Nói đến quản lý công chứng, lập tức người ta nghĩ ngay đến một hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đối với hoạt động bổ trợ tư pháp này. Ngay từ những văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho chế định công chứng tại Việt Nam, các quy định về thẩm quyền, trách nhiệm giám sát, quản lý hoạt động công chứng luôn được pháp luật nước ta ghi nhận. Qua từng thời kỳ, một số quan điểm mang tính chất chủ đạo khi xây dựng chế định công chứng Việt Nam đã thay đổi như chủ thể công chứng, mục đích công chứng, phạm vi công chứng, mô hình tổ chức hoạt động công chứng... Tuy nhiên, chúng tôi không thấy có những thay đổi mang tính đột phá khi nghiên cứu quy định về quản lý công chứng được các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực này ghi nhận. Nói cụ thể hơn, quy định về mô hình tổ chức cũng như cơ chế vận hành của hệ thống cơ quan, cá nhân có chức năng quản lý công chứng không có nhiều thay đổi giữa Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước và Luật Công chứng chứng ngày 29/11/2006. Theo quy định tại Luật Công chứng chứng ngày 29/11/2006, pháp luật vẫn giao cho tổ chức thuộc hệ thống cơ quan hành pháp đóng vai trò chủ đạo trong công tác quản lý công chứng. Về cơ bản, cơ chế quản lý công chứng hiện được xây dựng theo trục dọc Chính phủ - Bộ Tư pháp (Bộ Ngoại giao cũng như các bộ, cơ quan ngang bộ) - Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan nói trên được quy định tại Điều 11, Luật Công chứng ngày 29/11/2006. Theo chúng tôi đánh giá, nội dung mới nhất về cơ chế quản lý công chứng trong đạo luật trên chính là quy định "Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng". (Khoản 4, Điều 11, Luật Công chứng ngày 29/11/2006). Và mặc dù không được quy định là một cấp quản lý độc lập nhưng Sở Tư pháp có nhiệm vụ giúp việc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công chứng trong phạm vi địa phương mình (xem Điều 2, Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/1/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng). Nghiên cứu toàn văn điều luật vừa nêu, chúng tôi thấy trách nhiệm quản lý công chứng của Sở Tư pháp rất rộng lớn bao gồm cả việc hoạch định chính sách, thực hiện chính sách cũng như thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo...

          Mặc dù có rất nhiều nội dung mới trong Luật Công chứng ngày 29/11/2006, mà trước hết và quan trọng nhất là cho phép thành lập văn phòng công chứng ngoài nhà nước, xác định công chứng là một "nghề"... nhưng vai trò quản lý công chứng của tổ chức, cá nhân nằm ngoài hệ thống cơ quan hành pháp vẫn không có gì thay đổi. Nói một cách chính xác hơn, chúng ta mới chỉ thay đổi tư duy về công chứng chứ chưa thay đổi quan điểm về cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế vận hành thiết chế quản lý đối với hoạt động bổ trợ tư pháp này. Qua tham khảo quy định về chức năng quản lý công chứng được ghi nhận tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006, chúng tôi thấy hình thức quản lý nhà nước đối với công chứng vẫn được duy trì và cá nhân, tổ chức thực hiện chức năng quản lý chủ yếu vẫn nằm trong hệ thống cơ quan hành pháp. Nhìn chung, cũng giống như quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đó về công chứng, vai trò quản lý nhà nước của Tòa án, một cơ quan tư pháp, đối với công chứng cũng chỉ dừng lại ở việc giải quyết yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được quy định tại văn bản công chứng của một trong các bên đương sự tham gia giao kết hợp đồng công chứng hoặc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (Điều 6 và Điều 45, Luật Công chứng ngày 29/11/2006). Điểm mới đáng kể nhất trong vai trò quản lý của Tòa án đối với công chứng chính là quy định "trong trường hợp giữa người yêu cầu công chứng và công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng có tranh chấp liên quan đến hoạt động hành nghề công chứng thì các bên có quyền khởi kiện vụ việc ra Tòa án để giải quyết tranh chấp đó" được ghi nhận tại Điều 64, Luật Công chứng ngày 29/11/2006. Tuy đã được cải thiện một cách đáng kể nhưng rõ ràng, vai trò quản lý nhà nước của Tòa án đối với công chứng vẫn còn mờ nhạt và ở trong thế bị động, hướng tới giải quyết tranh chấp nhiều hơn là phòng ngừa xảy ra tranh chấp. Ngoài ra, chúng ta có thể bắt gặp những quy định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công chứng tại một số văn bản khác. Ví dụ, công tác thanh tra, kiểm tra công chứng được ghi rõ trong Nghị định số 74/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/8/2006 quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp. Nghiên cứu nội dung Khoản 2, Điều 7 và Khoản 2, Điều 10, Nghị định nói trên, chúng tôi thấy cả thanh tra Bộ Tư pháp và thanh tra Sở Tư pháp đều có nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra, kiểm tra công chứng.

          Qua tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật về công chứng qua từng thời kỳ, chúng tôi thấy quản lý công chứng ở nước ta có những đặc điểm sau:

          - Theo quy định của pháp luật, cơ chế quản lý công chứng thuần túy mang tính quản lý nhà nước. Ngay tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006, mặc dù công chứng đã chính thức được coi là một nghề nhưng chúng ta không tìm thấy bất kỳ quy định nào về tổ chức và hoạt động của hiệp hội nghề nghiệp dành cho công chứng viên chứ chưa nói đến vị trí và vai trò của chúng trong cơ chế quản lý công chứng. Nói theo cách khác, bên cạnh cơ chế quản lý nhà nước, các nhà làm luật chưa xác định cơ cấu tổ chức cũng như chức năng quản lý mang tính xã hội nghề nghiệp đối với hoạt động công chứng. Rõ ràng, điều đó khiến cho cơ chế quản lý công chứng được tổ chức và vận hành giống như cơ chế quản lý các hoạt động hành chính nhà nước thuần túy khác.

          - Nhìn chung, quy định về quản lý công chứng bao trùm lên tất cả lĩnh vực của hoạt động bổ trợ tư pháp này từ việc ban hành chính sách; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức công chứng viên; thành lập, giải thể tổ chức hành nghề công chứng; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chứng viên; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; kỷ luật công chứng viên; xem xét giá trị pháp lý của văn bản công chứng... Bên cạnh đó, do hiện nay chúng ta vẫn duy trì hệ thống tổ chức hành nghề công chứng của nhà nước với một đội ngũ cán bộ phòng công chứng (bao gồm cả công chứng viên) là viên chức nhà nước... nên ngoài việc phải chịu sự giám sát của cơ quan có chức năng quản lý nhà nước đối với công chứng nói chung, các phòng công chứng, công chứng viên...(với tư cách là đơn vị sự nghiệp hay viên chức nhà nước...) còn phải chịu sự quản lý của cơ quan, cá nhân khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức.

          - Hiện nay, pháp luật của chúng ta đang xếp công chứng là một chế định bổ trợ tư pháp còn về mặt tổ chức, các phòng công chứng lại được xếp vào hệ thống cơ quan hành chính sự nghiệp. Chúng ta dễ dàng nhận thấy công chứng gắn liền và song hành với cả hoạt động quản lý hành chính lẫn hoạt động tư pháp nói chung (tư pháp ở đây được hiểu theo nghĩa hoạt động xét xử của Tòa án). Tuy nhiên, cơ chế quản lý công chứng lại thuần túy chỉ do cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trong khi cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống cơ quan tư pháp hoặc bổ trợ tư pháp lại không có bất kỳ một nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, rõ ràng trong công tác quản lý công chứng, ngoài việc xem xét giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Như vậy, cơ chế quản lý hiện hành chưa phản ánh đúng bản chất công chứng. Khiếm khuyết này đã được khắc phục phần nào theo quy định tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006 nhưng vai trò quản lý của Tòa án đối với công chứng vẫn còn thụ động. Như vậy, mặc dù đã có những thay đổi nhất định, nhưng nhìn chung, cơ chế quản lý công chứng ở nước ta vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề từ cơ chế quản lý công chứng được quy định tại pháp luật công chứng của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ. Ngay cả khi mô hình tổ chức công chứng hành nghề tự do đã được manh nha thì cơ chế quản lý công chứng của Việt Nam vẫn chưa thực sự có những thay đổi cho phù hợp.

II. KIẾN NGHỊ.

          Quản lý công chứng là một trong những công tác trọng tâm khi xây dựng và hoàn thiện chế định bổ trợ tư pháp này trong hệ thống pháp luật của chúng ta. Do tính đa dạng, dàn trải, liên quan đến nhiều ngành luật của công chứng nên cơ chế quản lý hoạt động này không chỉ gói gọn trong Luật Công chứng ngày 29/11/2006 mà còn được xác định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác. Theo nghiên cứu của chúng tôi, cơ chế quản lý công chứng được tổ chức tương đối phức tạp, quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác nhau ban hành. Công tác quản lý hầu như bao trùm mọi khía cạnh của hoạt động công chứng như xác định cơ cấu bộ máy của tổ chức hành nghề công chứng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức công chứng viên, thanh tra, kiểm tra, ấn định mức phí, lệ phí công chứng... Hiện nay, chúng ta vẫn xếp công chứng là một chế định bổ trợ tư pháp, tức là về mặt lý thuyết, chế định này luôn gắn liền với những quy định của pháp luật về tài phán. Khi xác định phương hướng cải cách tư pháp, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 chỉ rõ: "Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó, xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp". Chủ trương là vậy nhưng qua quy định của pháp luật nước ta về quản lý công chứng, chúng tôi thấy vai trò quản lý công chứng của cơ quan, cá nhân nằm trong hệ thống tư pháp và bổ trợ tư pháp vẫn chưa phản ánh đúng tinh thần của chủ trương trên. Đặc biệt lần đầu tiên, căn cứ các quy định về tổ chức hành nghề công chứng được ghi nhận trong Luật Công chứng ngày 29/11/2006, văn phòng công chứng (tức là tổ chức hành nghề công chứng ngoài nhà nước) được thiết kế và hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân (đối với văn phòng công chứng có một công chứng viên) và công ty hợp danh (đối với văn phòng công chứng có từ hai công chứng viên trở lên). Nếu như trước đây, tổ chức hành nghề công chứng được thiết kế và vận hành dựa trên quy định pháp luật đặc thù điều chỉnh lĩnh vực công chứng và những quy định áp dụng chung cho tất cả cơ quan nằm trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước thì đến nay, một bộ phận tổ chức hành nghề công chứng được xây dựng và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp ngày 29/11/2005. Và tất nhiên, bên cạnh đội ngũ công chứng viên là viên chức nhà nước, sẽ xuất hiện những công chứng viên không phải là viên chức nhà nước. Điều đó ít nhiều cũng dẫn đến sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ giữa hai loại công chứng viên kể trên. Theo đánh giá của chúng tôi, việc xây dựng đội ngũ công chứng viên không phải là viên chức nhà nước cùng với sự xuất hiện của hệ thống văn phòng công chứng là một bước phát triển phù hợp với xu thế chung nhưng ngược lại nó cũng đặt ra rất nhiều vấn đề cho những nhà quản lý công chứng. Mặc dù pháp luật công chứng đã bắt đầu coi công chứng là một hoạt động nghề nghiệp nhưng chúng ta lại chưa xây dựng cơ chế quản lý công chứng theo đúng mô hình quản lý mang tính nghề nghiệp chuyên sâu. Cụ thể, trong Luật Công chứng ngày 29/11/2006 không có bất kỳ quy định nào về sự ra đời hoặc tồn tại của tổ chức hiệp hội nghề nghiệp công chứng dưới mọi hình thức. Nếu như trước đây, khi tổ chức hành nghề công chứng chỉ là phòng công chứng hoặc phòng công chứng nhà nước và là một đơn vị trực thuộc Sở Tư pháp hay Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; công chứng được coi là công cụ quản lý mang tính hành chính là chủ yếu... vấn đề thành lập hiệp hội nghề nghiệp công chứng là không cần thiết. Tuy nhiên, khi chúng ta xác định công chứng là một nghề có tính chất dịch vụ với nhiều thành phần, đối tượng tham gia cung cấp, vấn đề tổ chức hiệp hội nghề nghiệp công chứng trở nên vô cùng cấp thiết. Theo chúng tôi, xây dựng quy định về tổ chức hiệp hội nghề nghiệp công chứng và kèm theo đó là cơ chế tự quản sẽ giúp chúng ta nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bổ trợ tư pháp này mà không cần tăng biên chế đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý. Bên cạnh đó, hiệp hội nghề nghiệp công chứng cũng chính là tổ chức đóng vai trò trung gian nhằm dung hòa và hơn nữa, tạo ra sân chơi bình đẳng cho các hình thức tổ chức hành nghề công chứng, dù đó là phòng công chứng hay văn phòng công chứng; cho công chứng viên là viên chức nhà nước và công chứng viên không phải là viên chức nhà nước. Dưới đây, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị cho phương hướng cải cách, hoàn thiện pháp luật về quản lý công chứng. Tuy nhiên, trước khi đi vào những kiến nghị cụ thể, chúng tôi sẽ nêu lên một số yêu cầu đặt ra đối với cơ cấu tổ chức cũng như nguyên tắc vận hành cơ chế quản lý công chứng. Yêu cầu thứ nhất mà chúng tôi muốn đề cập đến chính là cơ chế quản lý công chứng phải dung hòa và đảm bảo sự bình đẳng giữa phòng công chứng và văn phòng công chứng, giữa công chứng viên là viên chức nhà nước và công chứng viên không phải là viên chức nhà nước. Yêu cầu thứ hai cho cơ chế quản lý công chứng là cơ chế này phải mang tính khả thi trên thực tế, phù hợp với các quy định khác của pháp luật và nhất thiết không làm thay đổi bản chất công chứng. Và yêu cầu cuối cùng mà chúng tôi muốn đưa ra là cơ chế quản lý công chứng phải được xây dựng trên nguyên tắc lấy ngăn ngừa là chính, đảm bảo sự kết hợp giữa cá nhân, tổ chức có liên quan cũng như tiết kiệm tối đa chi phí, nhân lực và thời gian cho công tác quản lý. Dưới đây là một số kiến nghị của chúng tôi nhằm kiện toàn cơ chế quản lý công chứng ở nước ta trong điều kiện hiện nay. Cụ thể như sau:

          - Kiến nghị thứ nhất, phải hoàn thiện quy định về cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý. Nói một cách cụ thể, chúng ta cần gấp rút ban hành văn bản cho phép thành lập hiệp hội công chứng với tư cách là tổ chức nghề nghiệp của công chứng viên và kèm theo đó là tiến hành xây dựng quy chế hoạt động cho hiệp hội này. Hiệp hội công chứng không chỉ là nơi đóng vai trò trung gian giải quyết qua con đường hòa giải bất đồng nảy sinh giữa những đồng nghiệp, đưa ra các chỉ dẫn, khuyến cáo trong quá trình tác nghiệp cho công chứng viên mà đây cũng chính là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền lợi của công chứng viên trong quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một phần nhỏ chức năng của hiệp hội công chứng. Theo nghiên cứu của chúng tôi, để giảm thiểu nhân lực nhưng vẫn nâng cao hiệu quả quản lý, ngoài việc duy trì chức năng quản lý công chứng của nhà nước, hầu hết các quốc gia đều cho phép hiệp hội công chứng đóng một số vai trò quản lý nhất định đối với lĩnh vực bổ trợ tư pháp này. Tùy vào pháp luật của mỗi quốc gia, hiệp hội công chứng có nhiệm vụ, quyền hạn quản lý rất khác nhau từ tham gia đào tạo, xem xét kỷ luật công chứng viên; hay tiến hành thanh tra, kiểm tra công chứng... thậm chí, cho ý kiến cũng như xây dựng quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, hoạch định chính sách phát triển công chứng trong tương lai... Như vậy, ngoài việc củng cố cơ chế quản lý công chứng mang tính quyền lực nhà nước, chúng ta cần xây dựng bổ sung cơ chế tự quản hay còn gọi là quản lý công chứng mang tính xã hội - nghề nghiệp. Hơn nữa, chúng ta cũng cần xác định rõ quyền hạn, nhiệm vụ và mối quan hệ phối hợp trong công tác quản lý công chứng của hai hệ thống cơ quan trên.

          - Kiến nghị thứ hai, cần tăng cường hơn nữa vai trò quản lý công chứng của tổ chức, cá nhân nằm trong hệ thống cơ quan tư pháp hoặc bổ trợ tư pháp. Mặc dù theo quy định tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006, vai trò quản lý công chứng của Tòa án ở nước ta đã được nâng lên một bước, nhưng như phân tích ở trên, vai trò quản lý công chứng của hệ thống cơ quan tư pháp các cấp vẫn còn thụ động. Theo quy định hiện hành, Tòa án đóng một vai trò quản lý công chứng rất khiêm tốn và cũng chỉ có điều kiện thể hiện vai trò quản lý khi xảy ra tranh chấp và nhận được yêu cầu từ một trong các bên có liên quan. Chính cách quy định này khiến cho hiệu quả quản lý của hệ thống Tòa án các cấp đối với công chứng không cao. Trong khi đó, với tư cách một hoạt động bổ trợ tư pháp, công chứng có chức năng tạo lập và cung cấp chứng cứ phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án nên rõ ràng, vai trò quản lý của Tòa án đối với công chứng như quy định hiện nay là chưa tương xứng. Do đó, cơ chế quản lý công chứng phải được hoàn thiện theo hướng tăng cường hơn nữa vai trò chủ động quản lý công chứng của Tòa án, không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của hệ thống cơ quan này mà còn phù hợp với bản chất công chứng.

          Trên đây, chúng tôi đã trình bày tóm tắt những nét đặc trưng của cơ chế quản lý công chứng được quy định tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006 cũng như tầm quan trọng của quản lý đối với hoạt động bổ trợ tư pháp nói trên. Sau đó, chúng tôi đưa ra hai kiến nghị vừa mang tính chất định hướng vừa mang tính chất giải pháp cấp bách nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý công chứng trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài./.

 

 

 

 

 


Người đăng :   admin
 Đây là 1 website công chứng rất tốt
 Các dịch vụ công chứng của chúng tôi rất tốt
 Website này rất tốt
 Mọi công việc ở đây đều được xử lý nhanh
Trang chủ | Diễn đàn | Dịch vụ | Tin tức | Giới thiệu | Liên hệ
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHÒNG CÔNG CHỨNG SỐ 3 THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Địa chỉ:  lô D, ô đất D11, khu đô thị mới quận Cầu Giấy
đường Trần Thái Tông, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội